|
Tóm tắt
Chúng tôi giới thiệu một trường hợp bị phình động mạch dưới đòn bên phải có triệu chứng. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt khối phình và tái lập lưu thông bằng cầu nối giữa thân tay đầu và đầu xa động mạch dưới đòn bằng prothèse Gore – tex.
Summary
We reported one case with a symptomatic anevrisme of the right subclavian artery. Patient was undergone an anevriectomy and revascularized by a Gore-tex bypass between brachio-cephalic arterial trunk and distal subclavian artery.
Tóm tắt lâm sàng
Bệnh nhân nam 58 tuổi vào viện với triệu chứng đau dọc theo cánh tay phải (dấu hiệu chèn ép đám rối thần kinh cánh tay), kèm theo phát hiện có một khối ở ngay nền cổ trên xương đòn phải đập theo nhịp mạch (dấu hiệu khối phình mạch).
Cận lâm sàng: Echo, AngioScan (hình dưới).
Chẩn đoán: Phình đoạn đầu động mạch dưới đòn phải.
Bệnh nhân được phẫu thuật cắt khối phình, ghép mạch bằng Gore-Tex.

Hình 1: Chụp AngioScan cho thấy khối phình ngay nơi xuất phát từ TABC, kéo dài qua động mạch đốt sống
Một vài đặc điểm của phình động mạch dưới đòn
Bệnh phình động mạch dưới đòn tương đối hiếm gặp, nó đặt cho chúng ta nhiều vấn đề về nguyên nhân, chẩn đoán cũng như các biện pháp điều trị khác nhau. Bệnh thường gặp ở nam giới (2/3 các trường hợp), và thường gặp ở bên phải (2/3 các trường hợp).
Các nguyên nhân có thể kể đến như : bệnh lý xơ vữa, phình mạch sau chấn thương, loạn sản động mạch, tổn thương do tia xạ, nhiễm trùng, biến chứng mạch máu của bệnh Behcet, bệnh Takayasu, bệnh Recklinghausen, trong hội chứng lối ra lồng ngực-cánh tay (syndromes de la traversée thoraco-brachiale).
Biểu hiện lâm sàng thường gặp là biến chứng huyết khối thuyên tắc, khối phình mạch. Ngoài ra có thể có triệu chứng đi lặc cách hồi (claudication) ở chi trên, chèn ép các cấu trúc kế cận tuỳ theo vị trí của khối phình (thực quản, thần kinh cánh tay, thần kinh giao cảm cổ, tĩnh mạch chủ trên…).
Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và các thăm dò hình ảnh học (Siêu âm Doppler, Chụp động mạch, Chụp mạch qua cắt lớp vi tính - AngioScan, MRI).
Điều trị có thể là phẫu thuật hoặc can thiệp qua đường nội mạch. Chỉ định còn tuỳ thuộc vào vị trí tổn thương và nguyên nhân.
Một số vấn đề đặt ra khi phẫu thuật
- Đường tiếp cận: Chọn lựa đường mổ rất quan trọng vì nó quyết định sự xuất hiện các biến chứng trong và sau phẫu thuật. Chọn đường mổ phụ thuộc vào vị trí khối phình : đường dọc giữa xương ức (bán phần hay toàn bộ), đường cổ (dọc trước cơ ức đòn chũm) hay đường trên xương đòn.
- Tái lập lưu thông: Trong trường hợp này, vì phối phình nằm ngay nơi xuất phát từ thân tay đầu và kéo dài đến nơi xuất phát động mạch đốt sống, nên:
o Phương pháp tái lập lưu thông được chọn lựa là cắt khối phình và ghép mạch bằng prothèse.
o Khi cắt khối phình cần thận trọng không làm trôi huyết khối trong khối phình (là nguyên nhân gây thuyên tắc ngược lên não - embolie rétrograde).
o Tránh cặp toàn bộ động mạch thân tay đầu (vì có nguy cơ thiếu máu não).
- Động mạch đốt sống: hoặc cắm vào động mạch cảnh chung, hoặc cắm vào cầu nối. Chúng tôi giữ lại động mạch đốt sống ở nguyên vị trí nhờ patch cắt vát đầu ngoài động mạch dưới đòn.
- Các cấu trúc có nguy cơ tổn thương:
o Thần kinh X
o Thần kinh hoành
o Thần kinh quặt ngược
o Đám rối thần kinh cánh tay (phía sau cấu trúc mạch máu)
Hình ảnh trong mổ: Khối phình ngay nơi xuất phát của động mạch dưới đòn cùng các cấu trúc giải phẫu liên quan
Hình 3: Cắt khối phình, tái lập lưu thông động mạch dưới đòn bằng Gore-Tex (đường kính 8mm) (nối giữa thân tay đầu và động mạch dưới đòn sau khối phình)
|