Home |    Liên hệ - Góp ý |    Thư viện hình ảnh |    Sơ đồ trang
    
 
Danh mục
    Giới thiệu  
     
    Tổ chức đoàn thể  
     
    Thông tin mới  
     
    Lịch công tác của Bộ môn  
     
    Đào tạo Đại học  
     
    Đào tạo sau Đại học  
     
    Bác sĩ Nội trú Ngoại  
     
    Trường hợp lâm sàng  
     
    Khoa học - Công nghệ  
     
    Thông tin tư liệu  
     
 
 Bài giảng Đại học
 Bài giảng sau Đại học
 Bên cạnh giảng đường
 Liên hệ - Góp ý
 Liên kết website

Bên cạnh giảng đường
Tôn Thất Tùng với người bệnh, học trò, quê hương và phẩm chất của nhà khoa học tài năng
Ngày cập nhật: 08/05/2012 10:47:34

GS Đặng Hanh Đệ

Tôi ra trường năm 1960, rất may mắn là được làm việc dưới sự dạy dỗ của Thầy từ những tháng cuối năm 1959 cho đến những giây phút cuối đời của Thầy. Trong con mắt chúng tôi lúc đó Thầy là một biểu tượng cao niên của một người bác sĩ phẫu thuật qua bao lời ca ngợi về Thầy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và những ngày đầu sau khi về Bệnh viện Phủ Doãn làm Giám đốc. Tôi vẫn còn nhớ như in bài giảng về bệnh ung thư đại tràng khi còn là sinh viên năm thứ 4, Thầy giảng cho lớp chúng tôi, không có một tờ giấy trong tay, bằng những ý hết sức cụ thể để phân biệt giữa ung thư đại tràng bên trái và bên phải, mãi đến sau này khi ra đầu đề thi cho sinh viên, tôi vẫn lấy những ý đó cho nội dung bài thi: nó hết sức ngắn gọn và thực tiễn, làm cho người ta không thể quên được.

Lần đầu tiên khi tiếp xúc với Thầy trong phòng mổ tôi hết sức lo lắng vì vẫn nghe mọi người nói là Thầy rất nghiêm khắc, có thể đánh và chửi người phụ mổ của mình. Quả đúng như vậy, những khi chảy máu hay làm điều gì không đúng với ý, Thầy có thể đánh vào tay bằng dụng cụ mổ, văng tục hay vứt lung tung dụng cụ ra phía sau chẳng cần biết sẽ rơi vào ai, ngay cả cô Hồ, là vợ Thầy, làm dụng cụ viên, cũng không tránh khỏi những lời mắng chửi. Ai cũng sợ khi phụ cho Thầy nhưng điều lạ là được phụ cho Thầy là một vinh dự và trong phòng mổ những ngày Thầy mổ thì học trò thuộc đủ mọi lớp từ sinh viên, bác sĩ mới ra trường cho đến các bác sĩ về bổ túc, đứng vây lấy bàn mổ, chẳng biết có nhìn thấy gì không nhưng chỉ nghe Thầy giảng trong lúc mổ là đã thấy mãn nguyện lắm rồi. Chúng tôi đợi cho đến khi cuộc mổ kết thúc, Thầy bỏ khẩu trang, nhiều khi vẫn còn đi găng, mặc áo choàng dây máu nói lại vài ý trong ca phẫu thuật này. Chúng tôi quây xung quanh như muốn nuốt từng lời.

Tôi được phân công về Khoa Tim, một khoa mới thành lập khi có đoàn chuyên gia Liên Xô sang giúp ta mổ tim. Lần đầu tiên trong đời, vừa mới ra trường, 24 tuổi, tất cả đều như lạc vào trong rừng, hồi hộp, lo lắng và sợ hãi mỗi khi phải trình bày bệnh nhân trong những buổi sáng đi thăm khoa của Thầy, theo sau là cả một đoàn dài các bác sĩ và sinh viên. Những ca mổ đầu tiên phụ Thầy, vừa phải ôn lại những việc mình sẽ phải làm, vừa phải chú ý đến những động tác của Thầy để làm sao trình bày chỗ mổ cho rõ, trong đầu luôn căng thẳng không dám nói một lời chỉ dạ và vâng. Khi Thầy đi ra không khí phòng mổ thay đổi hẳn, mọi người nói râm ran, tôi thấy nhẹ cả người. Nhưng chỉ sau thời gian ngắn, tôi đã làm quen với những ca mổ của Thầy, tôi nhận ra một điều là: trong công việc Thầy hết sức nghiêm khắc với mọi người, Thầy chú ý từng động tác nhỏ của học trò: buộc chỉ, cắt chỉ sao cho đúng, Thầy luôn luôn nói: Trước hết không được làm điều gì có hại cho người bệnh, nhưng khi công việc đã xong, Thầy lại rất ôn tồn, chỉ bảo và cả pha trò. Lúc này trông Thầy, nhất là hai con mắt thật hiền lành và độ lượng, một tình cảm đầm ấm bao trùm lên tất cả. Chúng tôi như những người con trong một gia đình, lắng nghe từng lời của người cha, bởi vì chúng tôi hiểu nói lên được những lời này, Thầy đã trải qua bao nhiêu kinh nghiệm trong đời, với một tấm lòng yêu thương mà muốn truyền lại cho học trò để đỡ tốn máu và cả tính mạng người bệnh khi chúng tôi cầm dao mổ. Tôi không thể quên được hình ảnh của Thầy ngồi gục đầu dưới chân cầu thang phòng mổ sau khi bệnh nhân đã chết ngay trên bàn vì chảy máu dữ dội từ 2 động mạch lớn nhất trong cơ thể, máu sôi lên trong ngực, réo sục bọt, bệnh nhân là một thanh niên 19 tuổi. Thật là một tình huống khủng khiếp trong đời tôi chưa bao giờ gặp. Là một sốc lớn đối với Thầy, một người dù đã trải qua bao nhiêu tình huống éo le, nguy nan nay cũng phải gục ngã. Thấy tôi đi qua Thầy ngẩng đầu lên và nói ngắn gọn: “Thôi tôi không mổ tim nữa đâu, từ nay anh làm đi”. Một tình cảm đau thương trùm lên trong tôi, nhìn người Thầy của mình đứng trước cái chết mà không sao cứu nổi. Có ai biết được để đi tới vinh quang thì đã phải trải qua những thử thách ghê gớm.
 
Những ai đã đi qua Bệnh viện Việt Đức đều không thể quên được những buổi sáng giao ban. Những buổi sáng đó chỉ trong vòng 15-20 phút nhưng đã là buổi giảng bài hết sức sinh động về mọi mặt, đương nhiên điều chính là những trường hợp xảy ra trong cấp cứu nhưng qua những chuyện chuyên môn mà Thầy đã dạy cho chúng tôi về cách xử lý khôn ngoan không máy móc của từng trường hợp, những điều này hoàn toàn không thấy trong sách. Một điều bổ ích và thú vị nữa là không chỉ đơn thuần về y mà Thầy thường truyền lại cho chúng tôi cách xử lý trong cuộc sống. Một bác sĩ trẻ vừa bổ túc xong trở về với địa phương mang ngay mẹ của Bí thư tỉnh uỷ ra mổ cắt dạ dày, chẳng may bà đã không qua khỏi. Thầy đã đưa câu chuyện này ra Hội trường giao ban và nói: “Tại sao nó lại dại thế, tốt thì chẳng ai khen, bây giờ thì làm sao. Vừa mới đi bổ túc về, đáng lẽ phải chọn một trường hợp nhẹ mà khai đao chứ. Nếu sức mình có 10 thì chỉ làm tới 5 thôi”.
 
Tôi lại nhớ đến ngày đầu khi từ chiến khu trở về Việt Đức, Thầy chọn một ca nối dạ dày – hỗng tràng để mổ mở màn, một ca của những ai mới vào nghề mổ xẻ. Tôi không trực tiếp nhưng nghe kể lại trong buổi hội chẩn có một bệnh nhân cao cấp cần phải cắt túi mật do sỏi, mọi người đều chờ đợi để chuẩn bị cho cuộc mổ thì Thầy nói: “Đưa sang Liên Xô mổ”. Ai nấy đều ngạc nhiên, tại sao Thầy lại không mổ ở Việt Nam, vị trí của Thầy, trình độ của Thầy, dù có thế nào thì còn ai trách được? Hai con người hai cách xử thế. Một bài học thực tiễn bổ ích biết bao.
 
Thầy Tùng chỉ mổ vào 3 buổi sáng 2, 4, 6 hàng tuần. Những ngày còn lại Thầy thường xuống phòng Đại thể, nơi mổ tử thi để phẫu tích gan. Những gan đã được ngâm sẵn vào formol, cay, hăng nhức mắt, Thầy dùng curette nạo để tìm các cuống trong gan, mải miết cả tiếng đồng hồ, còn tôi nhiều khi không chịu được, phải bỏ ra ngoài. Chính những tìm tòi này đã là cơ sở cho công trình nổi tiếng thế giới của Thầy: “Cắt gan theo phương pháp Tôn Thất Tùng”. Vì lúc đó còn có những phương pháp khác của Lortat Jacob, phức tạp hơn, mất nhiều thì giờ hơn có khi vài tiếng mới cắt được còn cách của Thầy chỉ 15 phút là xong như trong lần sang Thuỵ Điển, Thầy biểu diễn, họ hết sức ấn tượng và cũng từ đó hết đoàn nọ đến đoàn kia sang Bệnh viện Việt Đức để học: từ trung Quốc, Liên Xô, đến Pháp,Ý, cả Cu Ba xa xôi. Quyển sách đã được Thầy viết bằng tiếng Pháp và được NXB Masson (Pháp) ấn hành năm 1962. Trong số những người nước ngoài sang học, có một bác sĩ Ý, khi nghe tin Thầy mất đã đánh điện chia buồn, bằng một lời lẽ hết sức chân tình và xúc động, ông đã gọi Thầy là Cha.
 
Việc triển khai mổ tim ở Việt Nam là cả một công trình. Lúc đó (1964) nước ta ở trong thế cô lập, ngoài các nước XHCN, gần như không có nước nào quan hệ với ta. Việc đi ra nước ngoài học cũng rất khó khăn, trong nước chuẩn bị đối phó với chiến tranh phá hoại, mặt khác lại chi viện cho miền Nam. Thiếu thốn vật chất là điều đương nhiên, tất cả chỉ được mua theo tem phiếu, ngoài đường chẳng có gì, các cửa hàng mậu dịch đều treo biển “hàng mẫu không bán”. Bên cạnh đó, một khó khăn khác, nhất là những người làm khoa học, là không có một sách, tạp chí để đọc, chỉ thỉnh thoảng mới có sách báo in lại từ Trung Quốc. Trong hoàn cảnh như vậy mà Thầy dám nghĩ đến mổ tim hở, một cuộc mổ đòi hỏi sự làm việc đồng bộ của nhiều người, nhiều chuyên khoa, mà trong tay chẳng có lấy một thứ gì: cái kim, sợi chỉ, ống dẫn, chai lọ dẫn lưu… Những thứ mà ngày nay, các thế hệ đi sau cứ tưởng là chuyện cổ tích. Thực tế là như vậy. Thầy là người chỉ huy, đưa ra yêu cầu, còn chúng tôi phải tìm mọi cách mà khắc phục và thực hiện, mày mò, sàng xê, cải tiến, cái khó khăn nhất là chưa hình dung được công việc đó ra sao. Sau bao nhiêu lần mổ chó thử nghiệm, thất bại, thành công vẫn không nản chí. Ngày mổ trên người chúng tôi hêt sức hồi hộp, lo lắng, tôi không nhớ rõ nhưng chắc Thầy, người chỉ huy, đứng mũi chịu sào còn lo lắng gấp bội. Cuộc mổ diễn ra thuận lợi không có một trục trặc nào. Hết sức phấn khởi là ngày thứ 3 sau mổ, Bác Hồ đã đến tận giường thăm bệnh nhân và không biết bằng con đường nào mà Thầy đã được thư chúc mừng của bác sĩ Gibbôn, Hoa Kỳ, người có thể coi là mở đầu cho ngành mổ tim hở này. Thầy nói với tôi khi đưa tấm ảnh và bức thư chúc mừng: “Mỹ lần đầu tiên mổ tim hở là năm 1954, ta là năm 1965, khoảng cách có 11 năm” .
 
Tôi hiểu ý của Thầy ở một hoàn cảnh khó khăn như thế mà ta cũng đã làm được chỉ sau một thời gian ngắn. Rất tiếc nước ta do hoàn cảnh chiến tranh mà không thể vươn xa hơn, phải đợi đến những năm từ 2000 trở lại mới dần dần bắt kịp với trình độ trong khu vực và thế giới.
 
Năm 1972, thời kì căng thẳng gay go nhất của cuộc chiến tranh giải phóng, Mỹ đã thả bom B52 tại Hải Phòng, thiệt hại của lần thả bom vào một thành phố đông dân là hết sức nặng nề: ngay ngày đầu đã có 500 nạn nhân đến viện. Đó là vào tháng 5. Mọi người, không ai bảo ai, đều nghĩ không biết khi nào sẽ đến lượt Hà Nội. Những ngày này Hà Nội đã đi sơ tán rất nhiều, đường phố vắng hẳn, nhất là về cuối năm khi bắt đầu có gió heo may, đi ngoài đường chỉ chỉ thỉnh thoảng mới gặp một người vội vã đạp xe. Chúng tôi những cán bộ trẻ, ngoài 30 tuổi, bàn bạc với nhau, rất lo lắng cho Thầy, các Giáo sư khác trong trường đều đã đi cả, chẳng may có mệnh hệ nào thì thật là tổn thất lớn, trước hết là đối với người bệnh, sau là đất nước và chúng tôi. Sau khi thống nhất, chúng tôi vào buồng Thầy, một đoàn khoảng 10 người. Thầy vui vẻ tiếp chúng tôi, đợi một lúc, anh Bính, Bí thư Chi bộ nói: “Thưa Thầy, chúng em là những cán bộ trẻ trong Bộ môn, vì thấy Mỹ ngày càng bắn phá ác liệt, Hà Nội chắc cũng đến lượt B52 dội bom, chúng em đã bàn bạc với nhau, đồng lòng đề nghị Thầy đi sơ tán để giữ gìn vốn quý của cả nước”. Lúc đầu Thầy còn bình thản nghe nhưng đến câu sau thì Thầy nghiêm sắc, mặt đỏ bừng nhìn chúng tôi, không cho anh Bính nói tiếp và dằn giọng: “Các anh bảo tôi đảo ngũ à? Đất nước đang trong lúc nguy nan, tôi biết tôi phải làm gì chứ. Các anh ra đi”. Chúng tôi sợ quá, lấm lét nhìn nhau, lẳng lặng ra đi. Lúc này Thầy đã ngồi xuống ghế, mặt tái đi, thở nặng nhọc. Chúng tôi chẳng ai nói với nhau một câu nào nhưng đều hiểu như vậy là đã chạm vào lòng tự trọng của Thầy. Rất ân hận nhưng là một bài học quý giá đối với chúng tôi. Thầy đã dạy cho chúng tôi biết thế nào là lòng yêu nước của một trí thức chân chính. Thế rồi suốt 12 ngày đêm bắn phá bằng B52, mỗi đêm chúng tôi mổ khoảng 100 nạn nhân bị thương. Thầy Tùng cùng cô Hồ luôn luôn bên cạnh. Nhìn Thầy Tùng, bộ tóc trắng xoá, luôn luôn tươi cười động viên chúng tôi, dù Thầy không trực tiếp mổ nhưng có Thầy bên cạnh như một bó đuốc soi đường trong đêm tối, nhìn chú chó Catxi giống Yorkshire tung tăng ra vào phòng mổ, chúng tôi không cảm thấy gì là chiến tranh nếu như hàng đêm không nghe tiếng nổ vang rền cùng hơi bom phần phật qua cửa hầm mổ. Công việc khẩn trương nhưng vui vẻ trôi qua.
 
Năm 1975, đất nước ta hoàn toàn giải phóng, mọi người hết sức phấn khởi, Thầy Tùng đã đề nghị với cấp trên để được vào Huế thăm lại quê hương. Trong lúc bộn bề bao công việc, đường đi còn khó khăn, chưa ổn định về tình hình, nhưng Thầy cũng đã được phép dẫn một đoàn vào miền Trung. Đoàn chia làm hai: Một bộ phận đi máy bay, một bộ phận đi xe ô tô. Chúng tôi ngồi trên xe con măng ca với một thùng xăng dự trữ to tướng, rong ruổi 3 ngày 2 đêm mới vào đến Huế, dọc đường đi qua khu phi quân sự, 2 bên đường vẫn còn cắm các biển “chú ý có mìn”. Vào đến Huế là ngày 25-5-1975, anh Tuấn lúc đó là Giám đốc Sở Y tế dẫn chúng tôi đi thăm các cơ sở như Bệnh viện Trung ương Huế, trường Đại học Y Huế, những nơi này vẫn còn vương vãi những di tích của cuộc tháo chạy, nhưng mọi người hết sức nồng nhiệt đón đoàn. Buổi giao lưu với cán bộ trường Y có GS Nguyễn Bá Vận chủ trì trong đó tôi nhớ có bác sĩ Tùng nội khoa. Trong buổi nói chuyện với sinh viên toàn trường, Thầy đã nói vắn tắt tình hình ngành y tế miền Bắc, những đòi hỏi hiện tại đối với sinh viên của trường. Khi buổi nói chuyện kết thúc, tất cả sinh viên quây lấy đoàn, làm thành một hàng rào tiễn đoàn trong con mắt trìu mến, khâm phục, có phần hơi tò mò. Hôm sau Thầy cùng chúng tôi đã về nơi chôn rau cắt rốn của Thầy. Đứng trên nền nhà trơ chọi, Thầy chẳng nói câu nào, lặng lẽ bước đi. Một người con sau hơn 30 năm xa cách, nay trở về, biết bao suy nghĩ, bin rịn. Chỉ có cô Hồ nói: “Trong những năm sống ở Hà Nội, Thầy luôn nghĩ về quê hương, nên được tin thống nhất, Thầy đã nhanh chóng thu xếp để về”.
 
Sau này cứ mỗi khi có dịp là Thầy lại cố gắng dành mọi tình cảm để giúp cho quê hương mình. Cuối những năm 70, được tin trong Huế cử 2 sinh viên trường Y ra Hà Nội học, Thầy đã lộ vẻ vui mừng trông thấy. Thầy đề nghị với trường Y Hà Nội, cho học nội trú về Ngoại để có thể được ở lại lâu hơn: 4 năm chứ không phải là một năm cuối cùng. Nhưng do quy chế Bộ đề ra là phải qua kỳ thi tuyển chọn, nên 2 sinh viên chỉ được bổ túc sau khi tốt nghiệp chứ không được gọi là nội trú. Biết tôi phụ trách lớp sinh viên này, nên Thầy thường hỏi tôi về tình hình học tập và Thầy dặn anh Tôn Đức Lang, bác sỹ phụ trách phòng mổ, cũng là người Huế, thu xếp cho 2 sinh viên ở ngay trong bệnh viện, để tiện học tập. Dù là điều kiện ăn ở lúc đó còn rất khó khăn, cả 2 anh đã nỗ lực học tập và cuối năm là người đỗ đầu khóa. Đó là anh Bùi Đức Phú và anh Lê Lộc bây giờ, một mầm ươm từ hồi đó nay đã trở thành những phẫu thuật viên hàng đầu của Huế.
 
Tháng 5 năm 1982, một buổi sáng như mọi ngày, chúng tôi đang đứng nói chuyện dưới sân cạnh khu mổ, 3 người, anh Tôn Đức Lang, Tôn Thất Bách và tôi, thì anh Hồ Đắc Thuyên, con trai cụ Di hấp tấp tới báo tin: “Bách về ngay, cậu Tùng làm sao ấy”. Chúng tôi vội chạy xuống nhà xe để đi ô tô đến nhà Thầy. Đoán có sự chẳng lành, vì đây là lần thứ 3, sau 2 lần bị nhồi máu cơ tim, trước đây Thầy phải phấn đấu với bệnh tật lắm mới lại quay trở về với công việc. Lần thứ hai những ngày còn nghỉ ngoài Đồ Sơn, cháu Hiếu Thảo đã phải cầm chiếc ghế đẩu đi sau, mỗi khi đi được một đoạn ngắn, lại đặt xuống để Thầy ngồi nghỉ. Ô tô vừa đỗ, chúng tôi lao vào trong nhà, đúng như dự đoán, cô Hồ đang hà hơi thổi ngạt cho Thầy trên giường. Thấy chúng tôi đến, cô bật khóc và nói: “Anh Tùng bị ngừng tim rồi”. Mỗi người một việc, anh Lang đặt nội khí quản bóp bóng, còn tôi bóp tim, cô Hồ bẻ các ống thuốc để tiêm cho Thầy. Không ai nói với ai một lời, chỉ thỉnh thoảng nghe anh Lang ra y lệnh. Tất cả khẩn trương làm việc. Một lúc sau, cô Hồ nói: “Hơi thở có mùi acidose rồi, không còn hi vọng nữa đâu”. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục công việc của mình, mặc dù ai nấy đều vã mồ hôi. Mãi về sau mới có máy soi điện tim, thấy là một đường thằng, ai nấy đều rã rời và bật khóc. Nhìn Thầy nằm trên giường ngủ ra đi một cách nhẹ nhàng quá, không ai là không đau thương luyến tiếc. Hẫng hụt, trống trải, chúng tôi đến gần trưa thì lục tục ra về. Ngoài đường đã thấy một đám rất đông người dân đứng trước cửa nghe ngóng hỏi thăm. Họ đoán có điều gì chẳng lành ở nhà Thầy thì tụ tập chứ đã có tin thông báo gì đâu... Chúng tôi tự động đưa Thầy sang hội trường lớn trường Đại Học Tổng Hợp để quàn. Suốt đêm hôm đó, mọi người ở lại bên linh cữu của Thầy, đón tiếp những người đến viếng. Một bà cụ đã ngoài 70 tuổi, quần áo nâu, tay cầm 1 nén hương đến bên Thầy, gục đầu khóc thảm thiết vì Thầy đã mổ cho trong trai bà, nay khỏe mạnh đi làm. Chúng tôi cũng không ai cầm được nước mắt, khi chứng kiến tấm lòng biết ơn của bà đối với Thầy. Cả đêm ngồi ôn lại những câu chuyện về Thầy mà không để ý trời đã sáng từ lúc nào. Ngày truy điệu chính thức, gần như có mặt tất cả các vị lãnh đạo của đất nước, chúng tôi, những người học trò của Thầy kề vai khiêng linh cữu Thầy ra xe, cùng ghé vai có đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngoài đường phố, đông nghịt người đứng dọc theo đường Lê Thánh Tông ra phía nhà hát lớn, đoàn xe chạy theo phố Tràng Tiền, Tràng Thi và dừng một lúc trước cổng Bệnh viện Việt Đức để Thầy thăm lại lần cuối cùng, nơi Thầy đã cống hiến trọn đời cho bệnh nhân và cho khoa học. Dọc đường đến tận nghĩa trang Mai Dịch, hàng chục km, hai hàng người tự động bảo nhau tiễn đưa Thầy. Nhìn họ, nhất là nhìn vào mặt mỗi người, một tình cảm thương xót, tôn kính biểu lộ ra bên ngoài. Có lẽ, mọi người bảo nhau, chưa có một đám tang nào từ khi thống nhất đất nước, lại long trọng, trang nghiêm và đông đảo người dân tham gia như vậy, trừ đám tang chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là một đám tang của lòng người, họ thương tiếc cho một nhân tài đã hết lòng vì họ để cứu sống, nay đã ra đi mãi mãi.
 
Một tình cảm thương yêu vô bờ của người dân, đã dành cho Thầy. Tình cảm này đã làm ấm lòng cho gia đình của Thầy, cho chúng tôi, những người sẽ noi theo con đường mà Thầy đã đi. Chúng tôi nguyện sẽ sống sao cho khỏi phụ công dạy dỗ của Thầy.
Bộ môn Ngoại
  Các tin khác

Đại học đa lĩnh vực: “Quả đấm thép” của giáo dục đại học Việt Nam
Tốt nghiệp Y khoa Việt Nam, có nên học lên tiến sĩ/ thạc sĩ tại Mỹ?
Bác sĩ nội trú Việt Nam - đi học, bác sĩ nội trú Mỹ - hành nghề
Y đức, nên hiểu thế nào?
Tìm ra siêu kháng sinh chữa hầu hết bệnh
Thất bại - bài học của mọi người thành đạt
Vì sao “Good Morning, Vietnam” thuộc top 100 phim hay nhất nước Mỹ?
Chuyện tình đôi vợ chồng qua đời cách nhau 15 tiếng
Vì sao bác sĩ khó trở thành mẹ hiền
Vào ngành y không phải để... làm giàu

Thông báo
   Thông báo thi LS khối lớp Y3EFGH, học kỳ II năm học 2019-2020
   Danh sách Y3ABCD thi lâm sàng ngày 10-11/6/2020
   Thông báo thi LS khối lớp Y3ABCD, học kỳ II năm học 2019-2020
   KHÓA ĐÀO TẠO LIÊN TỤC (CME) VỀ CHẤN THƯƠNG VÙNG CỔ CHÂN VÀ BÀN CHÂN
   Kế hoạch thi tốt nghiệp học phần thực hành cho sinh viên y đa khoa hệ liên thông chính quy, năm học 2018-2019
Lịch giảng dạy lý thuyết
  Lịch giảng LT tuần 26 (Từ 15.8 đến 19.8.2022)
  Lịch giảng LT tuần 25 (Từ 8.8 đến 12.8.2022)
  Lịch giảng LT tuần 23(Từ 25.7 đến 29.7.2022)
  Lịch giảng LT tuần 22 (Từ 18.7 đến 22.7.2022)
  Lịch giảng LT tuần 21 (Từ 11.7 đến 15.7.2022)
Lịch giảng dạy lâm sàng
  Lịch giảng LT tuần 24 (Từ 01.8 đến 05.8.2022)
  Lịch giảng LS tuần từ 10.01 đến 14.01.2022
  Lịch giảng LS tuần từ 03.01 đến 07.01.2022
  Lịch giảng LS tuần từ 27.12 đến 31.12.2021
  Lịch giảng LS tuần 14 (Từ 06.12 đến 10.12.2021)