Home |    Liên hệ - Góp ý |    Thư viện hình ảnh |    Sơ đồ trang
    
 
Danh mục
    Giới thiệu  
     
    Tổ chức đoàn thể  
     
    Thông tin mới  
     
    Lịch công tác của Bộ môn  
     
    Đào tạo Đại học  
     
    Đào tạo sau Đại học  
     
    Bác sĩ Nội trú Ngoại  
     
 
Các bài đọc thêm
Tự đánh giá
Thông tin BSNT Ngoại
 
    Trường hợp lâm sàng  
     
    Khoa học - Công nghệ  
     
    Thông tin tư liệu  
     
 
 Bài giảng Đại học
 Bài giảng sau Đại học
 Bên cạnh giảng đường
 Liên hệ - Góp ý
 Liên kết website

Bác sĩ Nội trú Ngoại » Các bài đọc thêm
Mối nguy hiểm do viêm tắc động mạch
Ngày cập nhật: 11/06/2010 22:35:30

Viêm tắc động mạch là bệnh gây co thắt động mạch, làm rối loạn dinh dưỡng, dẫn đến hoại tử bộ phận do động mạch đó chi phối. Bệnh hay gặp ở nam giới và ở chi dưới, nhưng cũng thấy ở các động mạch chi trên, ruột, động mạch vành, động mạch não...

Vì sao lại sinh ra bệnh viêm tắc động mạch?

Đến nay người ta cho rằng viêm tắc động mạch là do: các yếu tố kích thích như khí hậu lạnh và ẩm kéo dài, nghiện thuốc lá, ăn uống thiếu các vitamin, tình trạng căng thẳng kéo dài về tâm và sinh lý... tác động lên thần kinh trung ương và thần kinh giao cảm, gây ra các phản ứng co thắt ở động mạch. Động mạch bị co thắt kéo dài gây thiếu máu cục bộ và đau đớn ở vùng tổ chức do nó chi phối, chính những yếu tố này lại kích thích  thần kinh làm động mạch bị co thắt nặng thêm. Kết quả là động mạch bị co thắt liên tục và dẫn đến các biến đổi ngày càng nặng như lớp cơ của thành động mạch tăng sinh, lớp nội mạc động mạch dày lên, thoái hoá thần kinh giao cảm của thành động mạch, lòng động mạch bị hẹp lại và dần dần tạo nên các cục nghẽn... Quá trình này làm tắc động mạch hoàn toàn, vùng tổ chức do động mạch nuôi dưỡng bị thiếu máu nặng dẫn tới hoại tử, gây đau đớn và nhiễm khuẩn nhiễm độc.

Các dấu hiệu nhận biết bệnh viêm tắc động mạch

Một người bị viêm tắc động mạch có thể nhận thấy các dấu hiệu sau đây: cảm giác lạnh và dị cảm như tê bì, kiến bò ở chi bị bệnh. Khi vận động thấy chóng mỏi. Dấu hiệu "đi cách hồi": người bệnh đi được một đoạn đường thì bị đau dữ dội và co rút cơ ở bắp chân nên phải dừng lại để nghỉ. Nghỉ vài phút thì hết đau và lại có thể đi tiếp. Đi tiếp được một quãng đường thì lại bị đau và bệnh nhân lại phải dừng lại để nghỉ. Nhưng theo thời gian, quãng đường đi được giữa các lần nghỉ ngày càng ngắn lại trong khi thời gian phải nghỉ để đỡ đau ngày càng dài hơn.

Vùng da bị tổn thương thay đổi màu sắc: da có màu tái nhợt hoặc xen kẽ các chỗ tái nhợt với các chỗ da bình thường. Khi bệnh nhân để thõng chân xuống (để máu đến chi nhiều hơn) thì thấy da đỡ tái nhợt và hồng lên. Nghiệm pháp gấp duỗi cổ chân: bệnh nhân nằm sấp, gấp duỗi khớp cổ chân vài lần thì sẽ thấy chỉ trong vài giây bàn chân của bệnh nhân sẽ trở nên tái nhợt. Khi cho bệnh nhân đứng dậy, nếu trong 10 giây màu da bàn chân không trở lại bình thường thì chứng tỏ có rối loạn tuần hoàn chi dưới. Nghiệm pháp Oppel và Buerger: bệnh nhân nằm ngửa, duỗi thẳng chân và giơ chân lên cao, chỉ sau vài giây da của chân đã chuyển thành tái nhợt. Nghiệm pháp Collins và Velenski: bệnh nhân nằm ngửa, duỗi thẳng chân và giơ chân lên cao, đồng thời với hiện tượng thay đổi màu sắc da còn thấy các tĩnh mạch mu bàn chân xẹp đi. Cho bệnh nhân ngồi dậy và buông thõng chân xuống, theo dõi thời gian các tĩnh mạch mu bàn chân đầy trở lại: bình thường các tĩnh mạch này đầy trở lại trong vòng 7 giây, nếu thời gian đầy lại kéo dài hơn thì chứng tỏ động mạch có thể bị tắc.

Bắt mạch cẩn thận và so sánh mạch ở cả hai chân, có thể thấy mạch chày sau và mạch mu chân yếu hoặc mất. Các triệu chứng rối loạn dinh dưỡng ở chi bị bệnh: rối loạn tiết mồ hôi, da chi thường khô, teo, lông thưa, rụng, các cơ bị teo, nhẽo. Xương chi bị xốp do tình trạng loãng xương. Loét và hoại tử đầu chi: gặp ở giai đoạn cuối của bệnh, cảm giác đau ở chi tăng lên, xuất hiện các vết loét ở đầu ngón chân và mu bàn chân, toàn trạng bệnh nhân suy sụp do nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng. Nhiệt độ da của chi bị tổn thương bị giảm đi rõ rệt (lạnh) so với bên lành. Siêu âm thấy thành động mạch dày lên, có các cục nghẽn mạch. Chụp động mạch cản quang xác định được mức độ co thắt của các động mạch bị viêm tắc, hình các cục nghẽn, mức độ lưu thông của động mạch. 

 Cắt cụt bàn chân do viêm tắc động mạch.
Chữa trị và phòng bệnh 

Điều trị nội khoa, dùng các thuốc chống co thắt mạch máu. Phẫu thuật cắt bỏ mạng lưới thần kinh giao cảm quanh động mạch. Mổ ghép mạch máu: cắt bỏ đoạn động mạch bị viêm tắc, dùng một đoạn mạch máu để ghép thay vào đoạn động mạch đã bị cắt bỏ. Đoạn mạch ghép có thể là một đoạn tĩnh mạch hiển trong của bệnh nhân (ghép tự thân), đoạn động mạch lấy từ người đã chết hiến tặng (ghép đồng loại) hay đoạn mạch máu nhân tạo. Làm thông mạch máu bằng kỹ thuật can thiệp nội mạch máu, nong rộng đoạn động mạch bị hẹp bằng bóng nong vào lòng động mạch đến đoạn động mạch hẹp, bơm bóng cho căng ra để nong rộng lòng động mạch. Đặt sten vào đoạn động mạch hẹp: sten là một khung có độ cứng nhất định, được đặt trên một bóng nong động mạch. Tiến hành đưa bóng nong đó vào động mạch đến chỗ động mạch hẹp và bơm lên để làm giãn thành động mạch ra đồng thời gài sten đó nằm lại chỗ động mạch vừa được nong ra. Phương pháp này giúp tránh được tình trạng động mạch bị xẹp lại sau khi nong.  Phẫu thuật cắt cụt chi bị viêm tắc động mạch là biện pháp cuối cùng, khi tình trạng hoại tử chi phát triển làm cho bệnh nhân đau đớn và suy sụp nặng.

 Phòng bệnh bằng cách:  loại bỏ các yếu tố kích thích gây có thắt mạch máu như lạnh, ẩm. Không hút thuốc. Tránh tình trạng căng thẳng kéo dài về tâm và sinh lý. Chế độ ăn uống đầy đủ các chất và vitamin.        

     Viêm tắc động mạch cần phân biệt với một số bệnh: hoại tử đầu chi do đái tháo đường, không có dấu hiệu "đi cách hồi". Xét nghiệm thấy glucoza máu tăng. Bệnh xơ vữa động mạch: thường bị tổn thương hệ thống động mạch toàn thân chứ không chỉ bị  ở chi dưới như bệnh viêm tắc tĩnh mạch, nên có thể thấy các động mạch ở thái dương, cánh tay, động mạch quay căng như sợi thừng. Bệnh Raynaud, thường gặp ở nữ giới, trẻ tuổi, bệnh  tiến triển thành từng đợt, tổn thương chủ yếu là ở đầu chi và đối xứng cả hai bên.

ThS. Nguyễn Mạnh Hà, Sức khỏe và Đời sống

admin
  Các tin khác

Dị tật lỗ đái thấp (Hypospadias)
Tình trạng mơ hồ giới tính (Hermaphroditism)
Tam chứng “Eagle-Barett” hay Hội chứng “bụng quả mận” (Prune Belly Syndrome) ở trẻ em
Bệnh lý tồn tại ống niệu-rốn
Van niệu đạo sau (Valve de l'Urèthre Postérieur)
Chẩn đoán nguyên nhân đái rỉ ở trẻ em
Giãn bẩm sinh niệu quản đoạn cuối thành nang (Ureterocele)
Chẩn đoán nguyên nhân bìu dái lớn bất thường và đau (Grosse Bourse Douloureuse)
Giãn tĩnh mạch tinh (Varicocele)
Phình niệu quản tiên phát do tắc nghẽn (Obstructive Primary Megaureter)

Thông báo
   Thông báo thi LS khối lớp Y3EFGH, học kỳ II năm học 2019-2020
   Danh sách Y3ABCD thi lâm sàng ngày 10-11/6/2020
   Thông báo thi LS khối lớp Y3ABCD, học kỳ II năm học 2019-2020
   KHÓA ĐÀO TẠO LIÊN TỤC (CME) VỀ CHẤN THƯƠNG VÙNG CỔ CHÂN VÀ BÀN CHÂN
   Kế hoạch thi tốt nghiệp học phần thực hành cho sinh viên y đa khoa hệ liên thông chính quy, năm học 2018-2019
Lịch giảng dạy lý thuyết
  Lịch giảng LT tuần 26 (Từ 15.8 đến 19.8.2022)
  Lịch giảng LT tuần 25 (Từ 8.8 đến 12.8.2022)
  Lịch giảng LT tuần 23(Từ 25.7 đến 29.7.2022)
  Lịch giảng LT tuần 22 (Từ 18.7 đến 22.7.2022)
  Lịch giảng LT tuần 21 (Từ 11.7 đến 15.7.2022)
Lịch giảng dạy lâm sàng
  Lịch giảng LT tuần 24 (Từ 01.8 đến 05.8.2022)
  Lịch giảng LS tuần từ 10.01 đến 14.01.2022
  Lịch giảng LS tuần từ 03.01 đến 07.01.2022
  Lịch giảng LS tuần từ 27.12 đến 31.12.2021
  Lịch giảng LS tuần 14 (Từ 06.12 đến 10.12.2021)