|
Viêm phúc mạc tiên phát là tình trạng nhiễm khuẩn thông thường của ổ phúc mạc có nguồn gốc từ đường máu, đường bạch huyết, hoặc nhiễm khuẩn ngược dòng từ loa vòi trứng. Khái niệm nầy đã loại trừ những trường hợp viêm phúc mạc nhiễm khuẩn do lan truyền trực tiếp từ đường tiêu hóa hay tiết niệu ra (viêm phúc mạc thứ phát), hoặc là những viêm phúc mạc đặc hiệu như viêm phúc mạc lao, viêm phúc mạc hạt. Và dĩ nhiên ở đây chúng ta cũng sẽ không tính đến những trường hợp viêm phúc mạc bẩm sinh mà rất thường gặp ở trẻ sơ sinh.
I. VÀI NÉT VỀ GIẢI PHẪU PHÚC MẠC
1. Phúc mạc gồm có 2 lá, lá thành bọc bên ngoài và lá tạng phủ lên các tạng tiêu hóa, giữa 2 là khoang phúc mạc.
2. Khoang phúc mạc là một khoang kín và có chỉ có thông với với hai loa vòi trứng ở nữ giới, khoang chứa một lượng dịch nhầy 100ml.
3. Khi có viêm phúc mạc nhiễm khuẩn thì có hiện tượng tăng tiết dịch, có mủ, vi khuẩn và tăng bạch cầu trong khoang phúc mạc.
4. Khoang phúc mạc trên thực tế gồm hai phần, phần lớn thường được gọi chung là ổ phúc mạc, phần bé là hậu cung mạc nối.
5. Phần lớn nhiễm khuẩn phúc mạc đều nằm ở phần lớn của ổ phúc mạc, ít khi lan vào phần bé; hai phần thông nhau bằng khe Winslow.
6. Do phúc mạc có diện tích lớn và hấp thu nhanh nên những nhiễm khuẩn phúc mạc dễ đưa đến tình trạng nhiễm độc cho cơ thể.
II. TÁC NHÂN GÂY BỆNH
Trước đây người ta tìm thấy nguyên nhân gây bệnh chính là phế cầu trùng, vị vậy trên y văn thời kỳ đó người ta đã dùng thuật ngữ viêm phúc mạc phế cầu để chỉ tất cả những trường hợp bị viêm phúc mạc tiên phát. Dần dần về sau người ta thấy tác nhân gây bệnh không những chỉ gặp do phế cầu thôi mà còn có thể do nhiều chủng loại khác nữa, thường là những vi trùng cơ hội, vì vậy người ta đã trở lại dùng thuật ngữ viêm phúc mạc tiên phát để thay thế.
III. ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI
Viêm phúc mạc tiên phát thường hay gặp trên những cơ địa sau:
1. Trên những trẻ em nhỏ có sức đề kháng cơ thể yếu.
2. Trên những cơ địa có bị suy giảm miễn dịch.
3. Trên những bệnh nhân bị hội chứng thận hư.
4. Trên những bệnh nhân xơ gan cổ chướng.
5. Trên những bệnh nhân bị bệnh Luput ban đỏ hệ thống.
6. Trên những trẻ em sau cắt lách.
IV. LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ
Nói chung người ta thường gặp bệnh nhân vẫn có những biểu hiện lâm sàng giống như trong viêm phúc mạc nhiễm khuẩn như:
- Hội chứng nhiễm trùng.
- Những rối loạn về tiêu hóa .
- Những dấu hiệu thực thể về phúc mạc.
Tuy nhiên những dấu hiệu nầy thường ở một mức độ nhẹ hoặc mơ hồ hơn so với một viêm phúc mạc nhiễm khuẩn thứ phát thường gặp. Có lẽ yếu tố chỉ điểm chính ở trên bệnh nhân viêm phúc mạc tiên phát là dịch ổ bụng, mặc dù chỉ khoảng 25% là tìm thấy vi khuẩn gây bệnh nhưng trong kinh điển người ta còn dựa thêm vào lượng bạch cầu, tỷ A/G và pH của dịch ổ bụng... để hướng đến chẩn đoán. Nếu được chẩn đoán viêm phúc mạc tiên phát, bệnh nhân thường chủ yếu là điều trị nội khoa với kháng sinh có kháng khuẩn phổ rộng.
Ngày nay đã có thêm các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh mới nên trong một vài trường hợp đặc biệt, siêu âm bụng có thể giúp phát hiện thêm một những nguyên nhân gây viêm phúc mạc thứ phát như viêm ruột thừa, viêm túi thừa Meckel, hay viêm hạch mạc treo vỡ mủ mà trên lâm sàng có thể bị bỏ sót.
Trong những trường hợp khó không loại trừ được thì một mổ bụng thăm dò vẫn được chỉ định để kiểm tra và làm sạch ổ phúc mạc chống dính về sau.
V. TIÊN LƯỢNG
Nói chung là tốt vì phần lớn tác nhân gây bệnh viêm phúc mạc tiên phát đều thường là những vi khuẩn yếu và nhạy cảm với các loại kháng sinh thông thường, tuy nhiên những trường hợp nặng là do nguyên nhân bỏ sót một viêm phúc mạc thứ phát hoặc do cơ địa của bệnh nhân mà ra.
VI. KẾT LUẬN
Những điều cần ghi nhớ qua bài viêm phúc mạc tiên phát là:
1. Viêm phúc mạc tiên phát chỉ gặp trên một số cơ địa đặc biệt.
2. Tác nhân gây bệnh không chỉ do phế cầu trùng như quan niệm cũ.
3. Biểu hiện lâm sàng thường nhẹ nhàng hơn viêm phúc mạc thứ phát.
4. Cần phải tránh bỏ sót một viêm phúc mạc thứ phát.
5. Điều trị chủ yếu là nội khoa, ít khi phải can thiệp phẫu thuật.
|