|
Những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, tôi được Bộ môn Ngoại phân công giảng lâm sàng cho sinh viên Y3 và Y4. Một hôm tôi giảng cho họ nghe về bệnh dị dạng thận-niệu quản đôi (duplicité urétérale), một trong những triệu chứng của bệnh là bệnh nhi bị đái rỉ kéo dài, mà gia đình thường cho rằng trẻ bị tiểu dầm (énurésie). Thật bất ngờ hai hôm sau một sinh viên Y4 dẫn đến nhờ tôi xem một cháu gái 7 tuổi bị đái rỉ từ bé kéo dài từ sau sinh và có những biểu hiện giống như bài mà tôi đã giảng lâm sàng. Sau khi khai thác bệnh sử tôi nghĩ nhiều đến bệnh dị dạng thận-niệu quản đôi nên đề nghị cho cháu nhập viện.
Hôm sau tôi báo bệnh cho BS Dương Đăng Hỷ (Trưởng Khoa Ngoại tiết niệu hồi đó) và BS Hỷ cho bơm dung dịch xanh methylene vào bàng quang để xem nước tiểu rò rỉ màu gì. Nước tiểu rò ra trên băng vẫn màu trắng, nên BS Hỷ nhất trí hướng chẩn đoán như tôi và cho đăng ký chụp UIV. Thuở ấy muốn chụp UIV phải chờ 1 tuần lễ nên trong thời gian chờ đợi tôi đề nghị cho trẻ lên phòng mổ để tìm lỗ dò nước tiểu. Để có thể phát hiện lỗ dò tôi cho tiêm tĩnh mạch dung dịch indigocarmin, nhờ đó tôi đã dễ dàng xác định được lỗ dò nước tiểu nằm ở mép trong môi bé bên trái. Đến khi UIV được chụp, sau khi đã có hình ảnh hai niệu quản, tôi cho bơm thêm thuốc cản quang visotrast ngược dòng vào lỗ dò và chụp tiếp một phim nữa thì chẩn đoán “dị dạng thận-niệu quản đôi” được xác định với hình ảnh 3 thận và 3 niệu quản điển hình, trong đó thận phải và niệu quản phải thì bình thường, còn bên trái thì có hai thận và hai niệu quản riêng biệt hoàn toàn. Bệnh nhi sau đó đã được cắt bỏ thận phụ bên trái kèm niệu quản. Kết quả điều trị thật là hoàn hảo.
BÀN LUẬN
Dị dạng thận niệu quản đôi là một loại bệnh thường gặp trong những dị tật bẩm sinh của đường tiết niệu trên (voies excrétrices supérieures - BM Ngoại). Bệnh có thể ở dưới dạng tiềm ẩn và không có biểu hiện lâm sàng nếu không kết hợp với một niệu quản lạc chỗ, và những trường hợp nầy thường được phát hiện một cách tình cờ qua chụp UIV. Trong dị dạng thận đôi, người ta phân chia thành hai thể là thận đôi hoàn toàn và thận đôi không hoàn toàn. Bệnh nhi nầy thuộc loại thận đôi hoàn toàn và có một niệu quản phụ cắm lạc chỗ, do có niệu quản phụ bị lạc chỗ vào âm hộ nên có triệu chứng rò rỉ nước tiểu từ sau sinh. Theo định luật của Weigert - Meizer trong thận-niệu quản đôi thì: “lỗ niệu quản trên là của thận dưới còn lỗ niệu quản dưới là của thận trên”.
Trong hầu hết trường hợp thận đôi thì thận phụ bao giờ cũng nằm ở trên và thường đều ở trong tình trạng giảm sản (hypoplasie) còn niệu quản phụ nếu cắm vào bàng quang thì sẽ không gây triệu chứng gì và khó phát hiện. Tuy nhiên phần lớn trên bệnh nhi nữ thì niệu quản phụ thường cắm lạc chỗ vào một trong những thành phần nào đó của âm hộ và gây rò rỉ nước tiểu liên tục kéo dài làm bệnh nhân khó chịu và làm ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của bệnh nhân.
Gần đây trong một báo cáo khoa học của Khoa Tiết niệu Bệnh viện Việt Đức Hà nội đăng trên tạp chí Y học thực hành cũng đã thông báo về hai trường hợp đái rỉ ở phụ nữ. Họ đều bị chồng bỏ vì không chịu được căn bệnh đó, cả hai đều đã vào Bệnh viện Việt Đức và tại đây các BS chuyên khoa tiết niệu đều đã phát hiện ra họ bị bệnh lý dị dạng thận niệu quản đôi kèm niệu quản lạc chỗ. Cả hai nữ bệnh nhân đều đã được phẫu thuật với kết quả tốt.
Trên những bệnh nhân có thận phụ nhưng chức năng còn tốt trên UIV, hoặc những trường hợp cần bảo tồn thận, các tác giả khuyên nên cắm lại niệu quản phụ vào niệu quản lành hoặc đơn giản hơn là cắm lại niệu quản phụ vào bàng quang với các phương pháp chống trào ngược. Những trường hợp có bệnh lý thận đôi hoặc niệu quản đôi nhưng không ảnh hưởng gì đến đời sống bệnh nhân hoặc gây biến chứng cho thận thì không có chỉ định can thiệp.
BÌNH LUẬN
Việc bơm Xanh Méthylène vào bàng quang được chỉ định trong trường hợp này là do các bác sĩ đã nghĩ đến có khả năng bệnh nhi đái rỉ do dò bàng quang - âm đạo. Tuy nhiên không có dò bàng quang - âm đạo bẩm sinh, mà chỉ có mắc phải (sang chấn do sinh đẻ, phẫu thuật vùng chậu…). Ở trẻ em, nhất là trẻ nữ, nếu “đái dầm kéo dài” thì phải nghĩ đến niệu quản cắm lạc chỗ trong bệnh lý dị dạng bẩm sinh đường tiết niệu trên, và để chẩn đoán thì phải chụp UIV và trên khám lâm sàng có thể làm nghiệm pháp tiêm tĩnh mạch indigocarmin như BS Đội đã làm để phát hiện lỗ dò ở âm hộ. (BS Nguyễn Khoa Hùng, PTV Ngoại tiết niệu, BM Ngoại).
|