|
Tôn Nữ Ngọc Trân, Tôn Nữ Hồng Tâm
Khi nhận được thư của Giáo sư – Bác sĩ Bùi Đức Phú, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, nguyên là học trò giỏi của Giáo sư Tôn Thất Tùng, mời chúng tôi tham gia Hội thảo Khoa học “Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Giáo sư-Viện sĩ, Anh hùng Lao động, Bác sĩ Tôn Thất Tùng” tại Huế, quê hương yêu dấu của cha và của chúng tôi. Chúng tôi rất cảm động và cũng nhận thấy đây là nhiệm vụ khó đặt ra cho chúng tôi vì cần chọn lọc nội dung để trình bày tại Hội thảo quan trọng này. Điều khó khăn đầu tiên là về các thành tích y học xuất sắc tầm cỡ thế giới, đức tính nhân ái sâu sắc của cha chúng tôi đối với bệnh nhân và các đồng nghiệp đã được viết trong nhiều sách và báo chí trong 30 năm qua, kể từ ngày ông mất 7-5 -1982. Điều khó khăn thứ hai là khi đặt bút viết bài này, rất nhiều kỷ niệm về người cha thân yêu của chúng tôi lại hiện lên, vì thế rất khó để trình bày một cách rành rọt trong một bài tham luận.
Giáo sư-Bác sĩ Tôn Thất Tùng xuất thân trong gia đình quan lại thuộc hoàng tộc, tuy nhiên tuổi thơ của ông bị thiệt thòi nhiều do ông nội chúng tôi mất sớm tại Thanh Hóa khi cụ đang là Tổng đốc tại chức. Bà nội chúng tôi đã đưa các con về Huế và sống tại ngôi nhà bên bờ sông Hương. Thời niên thiếu, ông đã có một ý chí tự lập cao, óc quan sát tinh tế và học rất giỏi. Đến tuổi học trung học, ông xa gia đình ra Hà nội học tại trường Bưởi (nay là trường phổ thông trung học Chu Văn An, Hà nội). Tại đây, ông đã tích cực tham gia nhiều hoạt động thể thao văn hóa, là một hậu vệ giỏi của đội bóng đá học sinh trường Bưởi và là “sói con” năng nổ trong đội Hướng đạo sinh của cụ Hoàng Đạo Thúy trong những năm 30 của thế kỷ trước. Tốt nghiệp Tú tài, ông đăng ký học Y khoa tại Hà nội với ý chí học nghề thuốc để chữa bệnh cho nhiều người và để được tự do hơn những ngành nghề khác trong chế độ thực dân. Trong thời gian học y khoa, sinh viên Tôn Thất Tùng nổi tiếng học giỏi và phát huy tốt khả năng quan sát, phân tích và tổng hợp khoa học, được các giáo sư Pháp rất khen ngợi. Mặc dù trình luận án tốt nghiệp bác sĩ đã khá lâu, nhưng ông không ra trường để hành nghề, mà kiên quyết đấu tranh với nhà cầm quyền thực dân phải mở lớp nội trú phẫu thuật tại Đại học Y Hà nội để các bác sĩ hoàn thiện chuyên môn của mình ở trình độ cao giống như tại trường Đại học Y khoa Paris. Nhờ sự kiên định của ông và các đồng nghiệp khác, cuối cùng chính quyền thực dân đã phải mở lớp nội trú phẫu thuật tại Đại học Y Hà nội. Sau này các bạn đồng nghiệp Pháp đã nói với ông rằng chính việc này đã mang lại các thành tựu khoa học xuất sắc của Đại học Y Hà nội, và chính Đại học Y Hà nội làm vinh quang cho Đại học Y Paris. Khi nhắc đến sự kiện này, ông nói với con cháu rằng, nhiều khi phải kiên quyết đấu tranh thì chân lý mới sáng tỏ ra được.
Cha kết hôn với mẹ chúng tôi, bà Vi Thị Nguyệt Hồ, khi ông 32 tuổi và đã có danh tiếng trong ngành y với các công trình về cấu trúc mạch máu và phẫu thuật gan được giải thưởng Huy chương Bạc của Viện Hàn Lâm Y học Paris và Trường Đại học Y Hà nội. Cha mẹ chúng tôi là một đôi được trời sinh ra cho nhau. Ông bà luôn luôn kính trọng nhau, giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh. Sau giải phóng thủ đô Hà nội năm 1954 mẹ chúng tôi bắt đầu làm công việc phụ mổ cho ông tại bệnh viện, chia sẻ những vất vả khó khăn cùng ông trong công việc và cuộc sống. Bà là cựu nữ sinh Trường Trung học nữ Felix Faure danh tiếng ở Hà nội, nhưng bà đã không học tiếp để lấy bằng Bác sĩ như nhiều người khác đã làm, mà sẵn sàng làm công việc của một y sĩ, trợ giúp cho ông trong mổ xẻ gần 30 năm. Mẹ chúng tôi thường nói trong gia đình cần có những người sẵn sàng hy sinh những ước vọng của bản thân mình để giúp cho người bạn đời của mình hoàn thành sự nghiệp và bà đã làm tốt việc rất khó như vậy. Cha đã tuyệt đối tin tưởng ở mẹ chúng tôi trong công việc và trong cuộc sống, kể từ khi bà rũ bỏ đời sống an nhàn sung sướng ở Hà nội, ôm con mới vài tháng tuổi theo ông lên chiến khu Việt Bắc để cùng ông chia sẻ ngọt bùi và thực hiện lý tưởng giải phóng dân tộc của ông. Mối tình của hai người luôn bền chặt đến tận ngày nay, khi ông đã đi xa hơn 30 năm nhưng hàng tuần bà vẫn đến thăm ông tại nghĩa trang Mai Dịch, tâm sự cùng ông những chuyện vui buồn trên đời.
Bác sĩ Tôn Thất Tùng là người có tấm lòng nhân ái bẩm sinh, ông thương yêu con người một cách tự nhiên, cảm nhận được nỗi đau của từng con người. Trong gia đình ông thường dạy chúng tôi về sự yêu thương của con người với con người và con người với động vật. Chúng tôi còn nhớ ông đã giận dữ thế nào khi thấy đứa cháu lỡ tay bóp một con mèo con gần chết. Ông đã từng nói, chúng ta ăn thịt động vật để sống, nhưng phải tôn trọng động vật bằng cách không được giết chúng bừa bãi chỉ vì thú vui hoặc để ăn uống thừa thãi.
Cha chúng tôi luôn chăm lo cho thế hệ trẻ, tương lai của gia đình và dân tộc. Câu đầu tiên trong quyển sách “Đường vào khoa học của tôi” xuất bản lần đầu tiên, ông viết “Tặng Hồng Tâm và Hiếu Thảo, những người con của tương lai”. Để giáo dục và bồi dưỡng thế hệ trẻ, ông khá nghiêm khắc với các xu hướng lệch lạc như lười suy nghĩ, không cố gắng đến cùng để thực hiện một công việc… Ông thường nhắc chúng tôi: quan sát là nền tảng của nghiên cứu khoa học và vốn tri thức rộng sẽ đưa kết quả nghiên cứu đạt đỉnh cao. Để làm được điều này ta cần phải có óc suy xét sâu sắc, độc lập trong nhận định khách quan và sự cố gắng liên tục của bản thân. Ông hiểu biết rất sâu sắc nền văn hóa phương Tây, đặc biệt là về nền văn hóa Pháp đã được hấp thụ từ nền giáo dục của Pháp, mặc dù có một số phần đã bị méo mó do chính sách thuộc địa. Tuy nhiên, ông cũng là người am hiểu rất sâu văn hóa phương Đông và văn hóa của dân tộc. Ông có một quyển vở tự tay ông chép các bài thơ Đường của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…bằng chữ Hán và có lời dịch sang tiếng Việt. Năm 1972, máy bay B52 của Mỹ bị bắn rơi ngay tại làng hoa Ngọc Hà, Hà Nội. Xác chiếc máy bay, biểu tượng của sức mạnh Hoa kỳ, nằm trơ trọi giữa hồ Ngọc Hà với chung quanh là các luống hoa đủ màu sắc. Mùa xuân năm sau, ông viết “Đào hoa y cựu tiếu B52” lấy ý thơ từ bài thơ Đường của Thôi Hộ để nói lên niềm tự hào chiến thắng của nhân dân. Ông có nhiều nhận xét rất tinh tế về văn thơ, thí dụ câu “Cầu vĩ đại nối hai bờ chế độ, tôi là viên đá nhỏ không tên” trong bài thơ “Vinh quang thay thế hệ Hồ Chí Minh”, ông đã đưa ra nhận xét: câu thơ này không chỉnh, vì hòn đá nằm ở bên bờ nào? Sự yêu quý sách và ham mê đọc sách của ông đã truyền sang cho chúng tôi với tâm niệm nâng cao tri thức rẻ nhất và chắc chắn nhất là bằng con đường đọc sách.
Để đào tạo thế hệ trẻ, ông luôn có những cách riêng để bồi dưỡng, hướng dẫn và giúp đỡ. Ông luôn tin tưởng và mạnh dạn giao việc cho lớp trẻ để họ phát huy được hết khả năng của mình. Anh Tôn Thất Bách là người được ông đào tạo rất kỹ trong nghề Y theo phương châm lấy thực tiễn làm chân lý và người bác sĩ giỏi phải là người hiểu hết các công việc trong bệnh viện. Khi anh Bách mới ra trường, công tác tại Bệnh viện Việt –Đức và trường Đại học Y Hà Nội, chúng tôi rất ít khi được nghe ông khen anh Bách trước mặt người khác, nhưng ông biểu lộ sự hài lòng về sự tiến bộ trong chuyên môn của anh. Đầu năm 1982, sau chuyến công tác của ông và anh Bách ở châu Âu có mổ biểu diễn phương pháp cắt gan “khô”, ông đã nói với mẹ chúng tôi rằng anh Bách đã trưởng thành trong nghề nghiệp, ngang tầm với các đồng nghiệp trên thế giới. Sau đó vài hôm, ông đã ra đi vĩnh viễn.
Cha chúng tôi thường tâm sự với chúng tôi rằng trong cuộc sống, đặc biệt trong nghiên cứu khoa học cần lấy trung thực làm đầu. Những gì gian dối sớm muộn cũng sẽ lộ ra và lúc đó các danh tiếng giả cũng sẽ tiêu tan. Chúng tôi còn nhớ vào những năm cuối thập kỷ 70, một nhà khoa học Mỹ bị lật tẩy giả mạo trong công trình ghép da khác màu trên động vật, ông đã rất vui mừng nói với chúng tôi rằng ông nghi ngờ tay này từ lâu, ngay cả khi hắn đang rất nổi tiếng và được cả giới y học thế giới tâng bốc. Theo ông, đức tính trung thực trong khoa học nhiều lúc cũng cần sự dũng cảm để không bị lung lay, cầu lợi. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, các phương tiện thông tin đại chúng ở phương Tây tố cáo Việt Nam sử dụng chất độc hóa học tại Campuchia, trong khi Việt Nam đang thu thập các chứng cứ và tố cáo Mỹ trên thế giới về tác hại của chất diệt cỏ đã rải xuống nước ta, ông đã viết một bài đăng trên báo Nhân Dân nói về vấn đề chất độc hóa học trong chiến tranh và Việt Nam không có cơ sở nào chế tạo chất độc này. Bài báo có tiếng vang nhất định trong dư luận trong và ngoài nước. Tuy nhiên, có một số nguồn tin của phương Tây tung ra là Việt Nam đã sử dụng kho chất độc hóa học của Mỹ để lại và ông được yêu cầu viết thêm một bài nữa để phản bác. Ông đã không viết với lý do ông không có bằng chứng xác thực nào về vấn đề này, mặc dù ông rất muốn ủng hộ ta.
Cha chúng tôi nổi tiếng là người “nóng tính” trong bệnh viện khi có các sai sót trong điều trị nguy hại đến tính mạng bệnh nhân, tuy nhiên ở nhà ông là người rất hòa nhã, vui vẻ, luôn đối xử công bằng với mọi người không phân biệt giữa các con cháu. Mặc dù bận nhiều việc, nhưng ông vẫn dành thời gian “xuống bếp” đùa vui với mọi người. Gia đình chúng tôi có một bếp ăn lớn nấu bằng than, hàng này có gần hai chục người ăn chung, bao gồm các thành viên của gia đình chúng tôi và gia đình Giáo sư-bác sĩ Hồ Đắc Di, nên không khác bếp ăn tập thể là mấy. Bà Hồ Đắc Di làm quản gia cho đại gia đình trong thời gian bao cấp đầy khó khăn nhưng cũng có rất nhiều chuyện vui vẻ. Hàng này trước bữa ăn, mọi người thường tụ tập quanh gốc cây bàng cổ thụ gần bếp để trò chuyện, trao đổi. Mỗi khi ông xuống bếp, mọi người đều “báo động” cho nhau để các thanh niên hút thuốc lá kịp thủ tiêu hoặc giấu các điếu thuốc đang cháy dở, bởi vì ông rất ghét thuốc lá. Rất nhiều lần ông thông báo các tin mới đã đạt được trong bệnh viện như nối thành công các chi bị đứt rời, các kỹ thuật mới được triển khai áp dụng…Các buổi trao đổi này làm cho không khí trong gia đình luôn vui vẻ khi hoàn cảnh sống thiếu thốn mọi bề và hơn nữa tạo ra ý thức yêu quý nghề trị bệnh cứu người. Chúng tôi nhớ có lần ông nói cuối thế kỷ XIX các gia đình tại Pháp đã có thể một tuần ăn một con gà và mong chúng ta sớm đạt được chỉ tiêu này. Thế rồi chỉ hai chục năm sau dân ta đã vượt qua được mức này và hiện nay còn hơn thế.
Để kết thúc bài này, chúng tôi nhớ đến lời của Giáo sư-Bác sĩ Hồ Đắc Di nói về Cha chúng tôi khi ông mất: Ông Tùng là người có nhân cách cao thượng, lòng nhân ái vô bờ, trí tuệ siêu việt, là nhà khoa học xuất sắc tầm cỡ thế giới, nhà văn hóa lớn và là danh nhân. Còn chúng tôi coi Cha chúng tôi là một “CON NGƯỜI HOÀN HẢO”, xứng đáng được viết chữ hoa để mọi người, mọi thế hệ trong gia đình phấn đấu noi theo./.
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Tỉnh ủy, Ủy Ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Hội Khoa học Lịch sử Thừa thiên Huế và Bệnh viện Trung ương Huế đã tổ chức và mời chúng tôi than dự cuộc Hội thảo Khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng, người con ưu tú của Thừa Thiên Huế và là người Cha thân yêu của chúng tôi. |