|
Trước thời kỳ phát triển và ứng dụng ống nội soi mềm trong chẩn đoán và cắt bỏ polype đại trực tràng ở trẻ em và người lớn được thực hiện một cách rộng rãi ở các cơ sở y tế như hiện nay thì vấn đề phát hiện bệnh polype đại - trực tràng đã có một thời gặp nhiều trở ngại. Một phần là do các biểu hiện lâm sàng của bệnh thường rất nhẹ nhàng nên dể bị người nhà bệnh nhân cũng như cán bộ y tế cơ sở bỏ sót chẩn đoán và phần khác là do rất thiếu thốn các phương tiện cận lâm sàng cần cho chẩn đoán và phát hiện bệnh. Do đó số lượng bệnh nhân polype đại trực tràng được chẩn đoán và cắt bỏ trong các cơ sở y tế vào thời đó vẫn còn khá khiêm tốn.
Ngày nay tại các cơ sở nội soi, do số lượng bệnh nhân hàng ngày đã được các bác sĩ điều trị tại các bệnh phòng cũng như các bác sĩ các phòng khám bệnh cho đi làm thủ thuật nội soi đường tiêu hóa ngày càng đông, nên bệnh polype đại trực tràng đã được phát hiện ngày càng nhiều, thậm chí đã có nhiều trường hợp bệnh nhân được phát hiện bệnh một cách tình cờ. Bên cạnh đó do thủ thuật cắt polype bằng dây thòng lọng đốt điện (loop for electrocoagulation) đưa trực tiếp vào ống nội soi có theo dõi và hướng dẫn trên hệ thống truyền hình màu cũng đã được thực hiện một cách rộng rãi và đơn giản hóa đi nhiều, thuận lợi cho bệnh nhân cũng như cho người điều trị so với các thủ tục rườm rà của một cắt polype tại phòng mổ trước đây. Những điều này đã giải thích được tại sao số lượng bệnh nhân cắt polype đại trực tràng ở các cơ sở nội soi ngày càng tăng so với lượng bệnh này trong thời gian trước kia.
Trong phạm vi của bài này, tôi sẽ trình bày cùng các bạn về bệnh polype đơn đại trực tràng (simple colorectal polyposis) của trẻ em, một bệnh đang chiếm vị trí hàng đầu trong các nguyên nhân gây chảy máu đường tiêu hóa dưới ở trẻ em.
I GIẢI PHẪU BỆNH HỌC
1. Bản chất: Trước đây có một thời kỳ người ta đã có một quan niệm sai lầm về bản chất giải phẫu bệnh của polype đại trực tràng ở trẻ em, trong thời kỳ đó người ta đã xếp polype trẻ em vào nhóm polype tuyến (adenomatoid polype) tức là những polype có tiềm năng ác tính như polype của người lớn.
Cho đến năm 1957 thì Homilleno mới khẳng định lại bản chất lành tính của polype đại trực tràng ở trẻ em, theo tác giả thì polype của trẻ em là polype viêm (inflamatory polype) hoàn toàn lành tính và khác với tiềm năng ác tính của polype tuyến ở người lớn. Và từ đó phương pháp điều trị của polype đại trực tràng ở trẻ em cũng đã đơn giản đi rất nhiều.
2. Vị trí thường gặp: 80% polype gặp ở trực tràng cách rìa hậu môn khoảng 70 cm, tức là có thể phát hiện được qua thăm khám trực tràng bằng tay kinh điển, ngoài ra số polype còn lại là có thể gặp rải rác ở những vị trí khác nhưng chủ yếu vẫn thường gặp ở đại tràng, còn polype ở ruột non, dạ dày cũng như các tạng khác thường chỉ gặp trong bệnh đa polype (polypose).
3. Số lượng: Thường gặp nhất là một polype đơn độc, hạn hữu mới gặp hai hoặc ba polype, có tác giả đã cho rằng tiềm năng ác tính của polype sẽ tăng lên và tỷ lệ thuận với với số lượng của nó.
4. Kích thước và hình dáng: polype thường có hình dáng tròn như quả nho hoặc như quả dâu tây, kích thước từ nhỏ cho đến lớn nhất thường gặp là 1cm đường kính, có màu đỏ tươi hoặc đỏ bầm, polype thường cắm vào niêm mạc ruột bằng một cái cuống dài hay ngắn, sau khi cắt xong thì polype chuyển sang tím bầm và thu nhỏ lại. Riêng ở người lớn, ngoài các dạng polype tuyến thường gặp của đại trực tràng, người ta có thể tìm còn tìm thấy một dạng polype chân rộng hoặc như chân san hô và được xem là một thể tiền ung thư, trong y văn tiếng Pháp có tên là tuneur de villeux.
II. LÂM SÀNG
Trong hầu hết các polype đơn độc của đại trực tràng ở trẻ em thì biểu hiện trên lâm sàng thường chỉ bằng một dấu hiệu duy nhất là đi cầu ra máu kéo dài, máu tươi thanh tia nhỏ dính trong phân hoặc ra cuối cùng của phân, không có mót rặn hay các triệu chứng khác kèm theo.
Bệnh thường gặp ở tuổi học đường và tiền học đường, nam cũng như nữ, trong một vài trường hợp polype ở vị trí đại tràng di động sẽ là nguyên nhân gây nên biến chứng lồng ruột bán cấp hoặc mãn tính ở trẻ em lớn. Một biến chứng khác của bệnh cũng có thể gặp là polype tự rụng cuống gây chảy máu nhiều gặp trong những trường hợp trẻ bị táo bón nặng hoặc là do phân quá cứng, tuy nhiên do mạch máu nuôi polype thường không lớn do đó nó có thể tụ cầm ít khi phải can thiệp, chẩn đoán chủ yếu dựa tiền sử đi cầu ra máu và thăm trực tràng bằng tay sẽ sờ được polype, trong những thể polype ở vị trí cao hơn thì sẽ được phát hiện bằng ống soi mền; trong kinh điển khi chưa có nội soi bằng ống soi mềm, người ta đã dùng phương pháp chụp đại tràng cản quang đối quang kép (double contrast colonography). Tuy nhiên với phương pháp này thì nhiều polype đơn lẻ thường bị bỏ sót.
III. ĐIỀU TRỊ
Trong kinh điển hầu hết các polype trực tràng đều được cắt bỏ đơn giản bằng đường hậu môn sau khi đã phát hiện qua thăm khám trực tràng bằng tay, hầu hết trẻ nhỏ đều được làm dưới gây mê masque. Ngày nay khi đã ứng dụng rộng rãi nội soi trong chẩn đoán và điều trị polype đại trực tràng ở trẻ em thì điều trị cắt bỏ polype đơn giản rất nhiều, tuy thế cũng cần phải tôn trọng vài nguyên tắc sau:
- Phải thụt tháo đại tràng hoặc dùng các loại thuốc xổ để làm sạch ruột ruột trước đó.
- Phải cho trẻ nhịn ăn trước khi làm thủ thuật.
- Trường hợp trẻ nhỏ nên có sự hổ trợ của Bác sĩ gây mê hồi sức và phải tiền mê hoặc mê masque.
Sau thủ thuật nên theo kiểm tra kỹ biến chứng chảy máu và tổn thương đại tràng ở vị trí cắt polype. Kết quả phẫu thuật thường rất rất tốt.
|