Trang chủ |    Liên hệ - Góp ý |    Thư viện hình ảnh |    Sơ đồ trang
    
 
Danh mục
    Giới thiệu  
     
    Tổ chức đoàn thể  
     
    Thông tin mới  
     
    Lịch công tác của Bộ môn  
     
    Đào tạo Đại học  
     
    Đào tạo sau Đại học  
     
    Đào tạo liên tục  
     
 
Các bài đọc thêm
Tự đánh giá
 
    Trường hợp lâm sàng  
     
    Khoa học - Công nghệ  
     
    Thông tin tư liệu  
     
 
 Bài giảng Đại học
 Bài giảng sau Đại học
 Bên cạnh giảng đường
 Liên hệ - Góp ý
 Liên kết website

Đào tạo liên tục » Các bài đọc thêm
Các phương pháp điều trị tắc ruột sơ sinh
Ngày cập nhật: 16/10/2010 11:04:49

Tắc ruột sơ sinh là một cấp cứu ngoại khoa hàng đầu ở độ tuổi sơ sinh. Đây là một hội chứng gặp trong  nhiều bệnh cảnh khác nhau.
 
I.       NHẮC LẠI VÀI NÉT VỀ BỆNH HỌC   
 
1.     Tắc ruột sơ sinh thường được phát hiện trong 15 ngày đầu sau sinh.
2.     Chẩn đoán lâm sàng dựa vào tam chứng tắc ruột sơ sinh.
3.     Chẩn đoán nguyên nhân dựa thăm khám trực tràng và chụp ASP.
4.     Có 6 bệnh cảnh có hội chứng tắc ruột sơ sinh:
-         Teo ruột
-         Tắc ruột phân su
-         Tắc ruột do dính bẩm sinh
-         Viêm phúc mạc bào thai
-         Bệnh Hirschsprung thể sơ sinh cấp tính
-         Hội chứng nút nhầy phân su
 
Có rất nhiều cách điều trị khác nhau mà mỗi cách sẽ tùy thuộc vào từng loại tắc ruột sơ sinh.
 
II.     CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU DƯỠNG NỘI KHOA
 
1.     Thụt tháo đại tràng bằng dung dịch nước muối sinh lý ấm
a.     Chỉ định điều trị:
-         Bệnh Hirschsprung thể sơ sinh cấp tính
-         Hội chứng nút nhầy phân su
b.     Kỹ thuật: Đối với trẻ sơ sinh thì khi thụt tháo đại tràng sẽ không dùng bốc chứa như trẻ lớn hoặc người lớn mà dùng xông Nelaton nhỏ đặt vào hậu môn và bơm rửa bằng loại bơm tiêm có thể tích lớn trung bình khoảng 50ml với áp lực nhẹ, số lượng dịch rửa được bơm trung bình mỗi lần khoảng 200ml, và thường sẽ bơm rửa cho đến khi dịch rửa đại tràng ra dịch trong.
c.      Đánh giá kết quả: Nếu ra nhiều dịch phân su lỏng, bụng mềm và trên lâm sàng trẻ giảm hoặc mất dấu hiệu tắc ruột thì kết luận thụt tháo có kết quả. Ngược sau khi đã làm đi làm lại thủ thuật 3 lần thì kết luận là thụt tháo không hiệu quả.
 
2.     Thụt tháo đại tràng bằng dung dịch gastrographine
a.     Chỉ định điều trị: Chủ yếu trong bệnh tắc ruột phân su đến sớm.
b.    Kỹ thuật: Cũng dùng bơm và xông Nelaton nhỏ để bơm dung dịch cản quang gastrographine vào đại tràng theo đường hậu môn. Dung dịch nầy được chọn làm vì nó có hai đặc điểm chính:
-         Do dung dịch có độ thấm thấu rất cao nên có thể khuếch tán và ngấm dễ dàng vào trong lòng của hồi tràng đoạn cuối để hòa loãng các kết thể phân su kết dính đang gây ra  tắc ruột và tống chúng ra ngoài theo đường hậu môn,
-         Dung dịch có tính cản quang nên có thể theo dõi tiến triển và đánh giá kết quả thủ thuật trên màn huỳnh quang. Phương pháp này do Noblette đề xuất nên còn có tên là phương pháp Noblette.
c.      Đánh giá kết quả: Tốt nếu phân su ra nhiều, bụng mềm, dấu tắc ruột giảm hoặc mất. Nếu sau 6-12 giờ làm thủ thuật mà không kết quả thì có chỉ định phẫu thuật.
 
III.     CÁC PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT
 
1. Phẫu thuật BISHOP-KOOP
a.     Chỉ định: Trong các loại teo ruột bẩm sinh, tắc ruột phân su, viêm phúc mạc bào thai mà phải cắt nối ruột.
b.     Kỹ thuật: Đây là kỹ thuật khâu nối ruột tận bên giữa đầu ruột trên bị dãn to do tắc và đầu ruột dưới bị teo nhỏ, bất hoạt lâu ngày; có kèm theo dẫn lưu đầu ruột dưới.  
c.      Ưu khuyết điểm: Phương pháp nầy có ưu điểm là có dẫn lưu bảo trợ nên rất an toàn cho miệng nối, miệng nối giữa hai đầu ruột tương đối rộng và qua chỗ dẫn lưu ruột có thể hàng ngày súc rửa hoặc thụt tháo các kết thể phân su còn đọng lại ở đoạn ruột bên dưới, đồng thời cũng kích hoạt được đoạn ruột ở bên dưới. Tuy thế phẫu thuật có nhược điểm là còn có một chỗ ruột dính vào thành bụng, đó cũng là chỗ dò ruột sau phẫu thuật phải đóng lại về sau...Phẫu thuật nầy tỏ ra thuận lợi nhất là trong bệnh tắc ruột phân su.
 
2. Phẫu thuật SANTULLI
a.     Chỉ định: Tương tự như trên.
b.     Kỹ thuật: Đây là kỹ thuật nối tận-bên giữa đầu ruột dưới teo nhỏ và đầu ruột trên dãn to kèm theo dẫn lưu đầu trên ra ngoài (ngược với cách nối ruột trong Bishop-Koop).
c.      Ưu khuyết điểm: Trong những trường hợp mà đoạn ruột bên dưới quá ngắn không đủ độ dài đưa ra thành bụng để dẫn lưu hay những trường hợp mà đoạn ruột dưới quá bất hoạt trong lúc ruột teo đã nằm ở đại tràng, thì phương pháp Santulli tỏ ra thuận lợi. Nhược điểm của phương pháp là vừa có miệng nối hẹp lại vừa gây dò và mất dịch nhiều nên trên lâm sàng cũng ít được sử dụng.
 
3. Phẫu thuật Mickulicz
a.     Chỉ định: Dùng trong những trường hợp lâm sàng quá nặng do nhập viện muộn, cần làm phẫu thuật nhanh, hoặc do các phẫu thuật viên không chuyên.
b.     Kỹ thuật: Đưa hai đầu ruột ra ngoài.
c.      Ưu khuyết điểm: Phẫu thuật thường nhanh và dễ thực hiện, tuy nhiên nhược điểm lại quá lớn, bệnh nhi dò ruột kéo dài và mất nước suy kiệt nhanh nên phẫu thuật cũng rất ít thực hiện trên lâm sàng.
 
4. Phẫu thuật nối ruột tận-chéo (termino-oblique)
a.     Chỉ định: Trong các trường hợp có chỉ định cắt nối ruột có chênh lệch khẩu kính hai đầu trong tắc ruột sơ sinh.
b.     Kỹ thuật: Cắt vát đầu ruột nhỏ với mục đích gia tăng khẩu kính cho bằng đầu ruột to rồi nối như nối tận-tận vậy.
c.      Ưu khuyết điểm: Sau nối ruột sẽ không có phần thừa như trong nhược điểm của hai phương pháp Bishop-Koop và Sanlulli, nhưng nhược điểm chính của nó lại là co hẹp miệng nối nên gây nhiều trở ngại cho lưu thông của ruột, do đó dần dần phương pháp nầy cũng ít được dùng trên lâm sàng.
 
5. Phẫu thuật nối ruột tận-tận có cắt vát đầu to (tampering operation)
a.      Chỉ định: Như trên.
b.     Kỹ thuật: Cắt vát đầu ruột bị dãn to sao cho khẩu kính còn lại của đầu ruột bị dãn to trở thành tương đương với khẩu kính của đầu ruột nhỏ, khâu lại đường cắt vát rồi nối ruột tận-tận.
c.      Ưu khuyết điểm: phương pháp nối ruột nầy đã khắc phục được những nhược điểm mà các phương pháp nối ruột khác trong tắc ruột sơ sinh đã mắc phải, do đó hiện nay nó gần như là phẫu thuật được các phẫu thuật viên nhi chuyên dùng trong khâu nối ruột của tắc ruột sơ sinh. Nhược điểm: do phẫu thuật dùng nhiều đường khâu ruột nên sẽ có tăng nguy cơ xì dò ở vị trí của các đường khâu nầy. Cách cắt vát ruột nầy đã được một số tác giả gọi tên là phương pháp nối ruột theo kiểu “gọt bút chì”. Riêng trong y văn tiếng Pháp thì tác giả Pellerin đã đề xuất phương pháp nối có cắt vát trong cuốn “các kỹ thuật dùng trong phẫu thuật nhi” xuất bản năm 1978.
 
6. Phẫu thuật mở thông đại tràng (colostomie)
Trong kinh điển thì phẫu thuật nầy được chỉ định trong trường hợp tắc ruột do bệnh Hirschsprung thể sơ sinh cấp tính mà điều trị thụt tháo không kết quả, tuy nhiên ngày nay với sự tiến bộ trong lảnh vực gây mê, hồi sức và phẫu thuật nhi thì người ta có thể tiến hành luôn phẫu thuật điều trị một thì bệnh Hirschsprung ngay từ giai đoạn sơ sinh mà không cần làm colostomie.
 
7. Phẫu thuật dẫn lưu lỗ thủng ruột
Xuất phát từ quan điểm là các lổ thủng ruột bệnh lý như thủng do lao ruột  hay do thương hàn thì không nên khâu kín vì dễ bục hoặc xì dò nên trong kinh điển thì những lổ thủng ruột trong viêm phúc mạc bào thai thường được dẫn lưu lỗ thủng một cách đơn giản (theo phương pháp của Stam Karder). Tuy nhiên gần đây người ta vẫn chủ trương khâu kín nếu lỗ thủng nhỏ, còn những lỗ thủng quả lớn, nếu khâu sẽ gây hẹp ruột nên một là khâu kèm tạo hình chổ hẹp hoặc là cắt rời rồi khâu nối ruột tân-tận.
 
8. Phẫu thuật cắt dây chằng và gỡ dính ruột
Phẫu thuật nầy thực hiện thường rất đơn giản sẽ giúp giải quyết được nguyên nhân gây tắc ruột do dính bẩm sinh, tuy nhiên về lâu dài bệnh nhi cũng sẽ có nguy cơ giống như nguy cơ tắc ruột sau mổ.
 
IV.    KẾT LUẬN
 
Qua tổng hợp điều trị tắc ruột sơ sinh đã nêu trên, những điều cần chú ý là:
1. Có nhiều phương pháp đã được dùng trong điều trị tắc ruột sơ sinh.
2. Một số phương pháp điều trị cũ ngày nay đã bị từ bỏ trên lâm sàng.
3. Khâu nối ruột chênh lệch khẩu kính vẫn là trọng tâm chính của điều trị.
4. Nối ruột tận-tận có cắt vát hiện đang được chọn lựa hiện nay.
5. Với sự tiến bộ của gây mê hồi sức và phẫu thuật nên kết quả điều trị các loại tắc ruột sơ sinh ngày nay đã được cải thiện hơn trước nhiều.  

Bộ môn Ngoại
  Các tin khác

Dị tật lỗ đái thấp (Hypospadias)
Tình trạng mơ hồ giới tính (Hermaphroditism)
Tam chứng “Eagle-Barett” hay Hội chứng “bụng quả mận” (Prune Belly Syndrome) ở trẻ em
Bệnh lý tồn tại ống niệu-rốn
Van niệu đạo sau (Valve de l'Urèthre Postérieur)
Chẩn đoán nguyên nhân đái rỉ ở trẻ em
Giãn bẩm sinh niệu quản đoạn cuối thành nang (Ureterocele)
Chẩn đoán nguyên nhân bìu dái lớn bất thường và đau (Grosse Bourse Douloureuse)
Giãn tĩnh mạch tinh (Varicocele)
Phình niệu quản tiên phát do tắc nghẽn (Obstructive Primary Megaureter)

Thông báo
   Về việc kiểm tra số liệu, bệnh án, tài liệu tham khảo của Luận án, Luận văn tốt nghiệp Sau đại học 2014
   Bảo vệ luận văn tốt nghiệp sau đại học năm 2014 tại Bộ môn
   Nội dung ôn tập thi tuyển Bác sĩ nội trú năm 2014, môn chuyên ngành Ngoại khoa
   Danh sách Giảng viên BM Ngoại được điều động coi thi lý thuyết các môn học khác, học kỳ 2 NH2013-2014
   Danh sách CB chấm thi Lý thuyết Ngoại HK2 NH2013-2014
Lịch giảng dạy LT và LS
  Lịch giảng LT Ngoại từ 15 đến 19/9/2012
  Lịch giảng LT Ngoại từ 8 đến 13/9/2014
  Lịch giảng LT Ngoại từ 3 đến 7/9/2014
  Lịch giảng LT Ngoại từ 9 đến 26/6/2014
  Lịch giảng LT Ngoại từ 19 đến 23/5/2014
Lịch trực Bệnh viện Trường
  Lịch khám PK Ngoại tháng 9/2014
  Lịch khám PK Ngoại BV Trường tháng 8/2014
  Lịch khám PK Ngoại tháng 7/2014
  Lịch khám PK Ngoại tháng 6/2014
  Lịch khám PK Ngoại BV Trường tháng 5/2014